KẾ TOÁN TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG TRỒNG TRỌT TẠI CÁC HỢP TÁC XÃ

KẾ TOÁN TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG TRỒNG TRỌT TẠI CÁC HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT NÔNG SẢN

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế phát triển nông nghiệp bền vững và hội nhập kinh tế, các Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp đóng vai trò là mắt xích quan trọng kết nối giữa hộ nông dân và thị trường. Đối với các HTX sản xuất nông sản, việc xác định chính xác giá thành sản phẩm trồng trọt không chỉ là yêu cầu bắt buộc trong công tác kế toán, tài chính mà còn là cơ sở cốt lõi để quản trị chi phí, định giá bán cạnh tranh và đánh giá hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, do đặc thù của hoạt động trồng trọt phụ thuộc lớn vào tự nhiên, chu kỳ sinh trưởng dài và mang tính vụ mùa, việc tập hợp chi phí và tính giá thành tại các HTX hiện nay vẫn gặp nhiều thách thức mang tính đặc thù.

2. Đặc điểm hoạt động trồng trọt ảnh hưởng đến công tác tính giá thành

Hoạt động trồng trọt trong các HTX có các đặc điểm sinh học và tổ chức quản lý tác động trực tiếp đến kế toán chi phí:

  • Tính chu kỳ và vụ mùa: Chi phí phát sinh liên tục nhưng sản phẩm thu hoạch lại tập trung theo mùa vụ. Điều này đòi hỏi phải có sự phân bổ chi phí hợp lý giữa các kỳ kế toán.
  • Đối tượng lao động là sinh vật sống: Quá trình sản xuất gắn liền với sự sinh trưởng của cây trồng (cây hàng năm hoặc cây lâu năm), dẫn đến việc phân loại chi phí đầu tư cơ bản (XDCB) và chi phí sản xuất kinh doanh có sự khác biệt.
  • Sản phẩm đồng thời và phụ phẩm: Một quá trình trồng trọt có thể thu được sản phẩm chính (thóc, hạt ngô, quả) và sản phẩm phụ (rơm rạ, thân cây làm thức ăn gia súc). Kế toán cần tách biệt giá trị sản phẩm phụ khi tính giá thành sản phẩm chính.

3. Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành

Để tính giá thành chính xác, trước hết kế toán HTX phải xác định rõ hai yếu tố:

  • Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: Là từng loại cây trồng (lúa, rau sạch, cây ăn quả…) hoặc nhóm cây trồng cùng loại; hoặc theo từng loại dịch vụ, từng cánh đồng/nhà màng của HTX.
  • Đối tượng tính giá thành: Là sản phẩm thu hoạch hoàn thành (với cây hàng năm) hoặc khối lượng sản phẩm thu hoạch trong kỳ (với cây lâu năm). Đơn vị tính thường là Kilôgam (kg), Tạ, Tấn hoặc Thùng/Hộp tiêu chuẩn.

4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất (Cost Accumulation)

Chi phí sản xuất trong hoạt động trồng trọt của HTX được phân loại theo các khoản mục chi phí cấu thành nên giá thành (thường áp dụng theo Thông tư 71/2024/TT-BTC áp dụng cho HTX):

4.1. Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp

Bao gồm giá trị thực tế của hạt giống, cây con giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, màng phủ, hệ thống nước tưới (sử dụng một lần)… tiêu hao trực tiếp cho từng loại cây trồng.

  • Phương pháp: Tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng. Nếu dùng chung cho nhiều loại cây trồng thì phân bổ theo tỷ lệ diện tích hoặc định mức tiêu hao.

4.2. Chi phí nhân công trực tiếp

Gồm tiền công lao động của thành viên HTX hoặc lao động thuê ngoài thực hiện các công đoạn: làm đất, gieo cấy, chăm sóc, bón phân, thu hoạch… bao gồm cả các khoản trích theo lương (nếu có).

4.3. Chi phí sản xuất chung

Các chi phí quản lý và phục vụ sản xuất tại tổ đội, cánh đồng, nhà lưới của HTX như: Khấu hao tài sản cố định (máy cày, máy gặt, hệ thống tưới nhỏ giọt, nhà màng), chi phí điện, nước, chi phí thuê đất sản xuất, và lương của cán bộ kỹ thuật, tổ trưởng sản xuất.

  • Phương pháp: Cuối kỳ, chi phí này được phân bổ cho các đối tượng tính giá thành theo các tiêu thức hợp lý (tỷ lệ thuận với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, hoặc diện tích canh tác).

5. Quy trình và Phương pháp tính giá thành sản phẩm (Costing Methods)

5.1. Kỳ tính giá thành

Thông thường, kỳ tính giá thành trong trồng trọt không theo tháng mà theo vụ mùa (đối với cây hàng năm) hoặc theo năm gốc/năm lịch (đối với cây lâu năm). Giá thành chỉ được xác định khi sản phẩm đã được thu hoạch xong.

5.2. Công thức tính giá thành tổng quát

Giá thành của sản phẩm trồng trọt được xác định bằng công thức toán học sau:

Trong đó:

  • Z: Tổng giá thành sản phẩm chính hoàn thành trong kỳ.
  • Ddk​: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ (chi phí làm đất, gieo hạt vụ trước chưa thu hoạch).
  • C: Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
  • Gp​: Giá trị sản phẩm phụ thu hồi được (được định giá theo giá có thể ròng hoặc giá thị trường ước tính và trừ vào chi phí).
  • Dck​: Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ (chi phí đã bỏ ra cho vụ sau nhưng chưa thu hoạch).

(Với Q là khối lượng sản phẩm chính thu hoạch được).

5.3. Các phương pháp tính giá thành cụ thể áp dụng tại HTX

Tuỳ thuộc vào loại nông sản, HTX áp dụng các phương pháp:

  1. Phương pháp giản đơn (Phương pháp trực tiếp): Áp dụng cho các HTX trồng loại cây mà chỉ thu được một loại sản phẩm duy nhất (ví dụ: HTX trồng rau chuyên canh một loại rau).
  2. Phương pháp hệ số hoặc tỷ lệ: Áp dụng khi cùng một quá trình sản xuất thu được nhiều loại sản phẩm có phẩm cấp khác nhau (ví dụ: Gạo loại 1, Gạo loại 2) hoặc trồng xen canh nhiều loại cây trên cùng một diện tích mà không tách biệt được chi phí.

6. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

Đối với trồng trọt, sản phẩm dở dang là khối lượng chi phí đã đầu tư cho các loại cây trồng đến thời điểm khóa sổ kế toán nhưng chưa đến mùa thu hoạch.

  • Đối với cây hàng năm: Toàn bộ chi phí thực tế đã phát sinh từ lúc làm đất, gieo hạt, chăm sóc cho đến ngày lập báo cáo tài chính được tính là giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
  • Đối với cây lâu năm (Cây ăn quả, cây công nghiệp): Trong giai đoạn kiến thiết cơ bản (chưa ra quả), chi phí được tập hợp riêng để hình thành TSCĐ. Khi cây đi vào giai đoạn kinh doanh (cho thu hoạch), chi phí dở dang cuối kỳ thường là chi phí chăm sóc sau mùa thu hoạch trước để chuẩn bị cho mùa vụ năm sau.

(Bảng tính giá thành sản phẩm lúa hàng hoá- Từ phần mềm quản trị HTX Lotus)

7. Kết luận và hàm ý quản trị cho HTX nông sản

Việc hoàn thiện công tác kế toán tính giá thành tại các HTX nông sản mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn:

  • Chính xác hóa thông tin tài chính: Giúp HTX minh bạch hóa chi phí trước các thành viên và cơ quan thuế, thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
  • Tối ưu hóa chi phí: Nhận diện được khoản mục chi phí nào đang chiếm tỷ trọng lớn (ví dụ: chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) để từ đó có hướng chuyển đổi sang mô hình hữu cơ, VietGAP nhằm tiết kiệm chi phí.
  • Ra quyết định chiến lược: Là cơ sở để ban giám đốc HTX quyết định giữ lại hay thay thế một loại giống cây trồng, định giá bán buôn/bán lẻ tối ưu để bảo vệ lợi ích của người nông dân trong HTX.

Thạc sĩ Nguyễn Trọng Đông